Ẩm thực tây nguyên

Ẩm thực Tây Nguyên rất phong phú và đa dạng, bởi từng khu vực khác nhau, nét tinh túy của núi rừng vừa hoang sơ, vừa hấp dẫn, khó cưỡng.

Thứ Tư, 28 tháng 5, 2025

Giới thiệu ẩm thực Tây Nguyên

 

Xin chào, mình là Kon Sơ K' Khân . Hôm nay mình sẽ chia sẻ với các bạn về ẩm thực Tây Nguyên – một phần rất đặc biệt trong văn hóa ẩm thực của Việt Nam mà mình rất yêu thích.”

Các bạn cùng theo chân mình đi khám phá nhé.

Ẩm thực Tây Nguyên không chỉ là những món ăn, mà còn là kết tinh của thiên nhiên, con người và văn hóa bản địa. Nơi đây có nhiều dân tộc sinh sống như Ê Đê, Ba Na, Gia Rai, M’nông... nên ẩm thực rất phong phú và mang màu sắc riêng biệt.

Một điểm nổi bật trong ẩm thực Tây Nguyên là sự gắn bó với núi rừng. Người dân thường sử dụng nguyên liệu tự nhiên như lá rừng, măng le, cá suối, thịt thú rừng, các loại rau dại… để chế biến thành những món ăn đặc trưng. Một số món nổi tiếng có thể kể đến như:

  • Cơm lam: Gạo nếp được cho vào ống tre, thêm nước suối, sau đó nướng chín trên than hồng. Cơm lam dẻo thơm, ăn kèm muối vừng hoặc thịt nướng rất hấp dẫn.

  • Gà nướng bản Đôn: Gà thả rông ướp gia vị rừng rồi nướng trên than củi, da giòn, thịt ngọt và thơm đặc trưng.

  • Canh lá bép (lá nhíp): Một món canh dân dã của người M’nông, được nấu từ lá bép non cùng cá suối hoặc tôm khô.

  • Thịt nai khô, bò khô: Thịt được tẩm ướp kỹ lưỡng với gia vị địa phương rồi phơi nắng hoặc hun khói, tạo nên món ăn thơm ngon, có thể bảo quản lâu ngày.

  • Rượu cần: Thức uống truyền thống không thể thiếu trong các lễ hội. Rượu được ủ từ nếp, men lá, để trong ché và uống bằng cần tre. Đây là biểu tượng của sự đoàn kết, gắn bó cộng đồng.

Ẩm thực Tây Nguyên không cầu kỳ, không kiểu cách mà mang trong mình sự mộc mạc, chân chất – như chính con người nơi đây. Những món ăn ấy không chỉ làm ấm lòng thực khách mà còn kể những câu chuyện dài về văn hóa, tập tục và cuộc sống giữa đại ngàn hùng vĩ.


Liên hệ


  Liên hệ với tôi

Xin chào! Cảm ơn bạn đã ghé thăm blog của tôi. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi, góp ý hay cần hỗ trợ, hãy liên hệ với tôi bằng cách điền vào biểu mẫu dưới đây hoặc qua các kênh mạng xã hội.

📩 Gửi tin nhắn trực tiếp:>

 Gmail: 2311045@dlu.edu.vn

Zalo : Gtb Kon Sơ K Khân

Instagramhttps://www.instagram.com/khaa_n05?igsh=dzZqcWcyaDdpa3ll&utm_source=qr

🌐 Kết nối với tôi:>

Facebook: Khaan Peo

SĐT:0348327387

"Cảm ơn bạn đã ghé thăm blog của mình. Hy vọng những chia sẻ tại đây sẽ hữu ích với bạn!"

"Cảm ơn bạn đã dành thời gian đọc bài viết. Sự ủng hộ của bạn là động lực lớn nhất để mình tiếp tục viết."

Thứ Hai, 19 tháng 5, 2025

Nơi hội tụ và lan tỏa sắc màu văn hóa Gia Lai

Nơi hội tụ và lan tỏa sắc màu văn hóa Gia Lai
Một hoạt động trải nghiệm văn hóa thú vị dành cho người dân và du khách đang được Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai tổ chức hàng tuần, tại khuôn viên Bảo tàng tỉnh. Với nhiều nội dung hoạt động nghệ thuật hướng về chủ đề “Sắc màu văn hóa Gia Lai - Bảo tồn và phát triển”. Hoạt động này được đánh giá là cách làm độc đáo giúp cộng đồng các dân tộc trong tỉnh quảng bá, giới thiệu lan tỏa nét văn hoá đặc sắc đến toàn thể người dân và du khách. Qua đó góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống các dân tộc gắn với việc thúc đẩy phát triển du lịch địa phương.



Rực rỡ sắc màu văn hóa
Giữa phố núi Pleiku náo nhiệt, vội vã, khuôn viên Bảo tàng tỉnh rợp hàng cây xanh ngát, đậm chất núi rừng, là nơi lý tưởng để các nghệ nhân tự do thể hiện các phần trình diễn với tất cả hứng khởi và say mê. Các nghệ nhân thỏa sức phô bày sự đa dạng của văn hóa truyền thống như: cồng chiêng, dệt thổ cẩm, đan lát, tạc tượng, các trò chơi dân gian… Mỗi chủ nhật hàng tuần, không gian tại đây đều tràn ngập âm thanh và màu sắc riêng biệt, độc đáo của mỗi dân tộc đến từ các buôn làng khác nhau.
Mới đây, chúng tôi được chứng kiến Chương trình “Sắc màu văn hóa Gia Lai - Bảo tồn và phát triển” tuần đầu tiên, do Đoàn nghệ nhân dân tộc Gia Rai, xã Ia Dêr, huyện Ia Grai thực hiện. Các nghệ nhân đã mang đến cho khán giả trải nghiệm thú vị, cùng hòa mình vào những màn trình diễn cồng chiêng mừng lúa mới rộn ràng và bản hòa tấu nhạc cụ dân tộc Anh hùng Núp hào hùng. 

Anh Siu Tim, Trưởng đoàn nghệ nhân Ia Dêr, phấn khởi cho biết: "Đây là lần đầu tiên đoàn được trình diễn trong không gian nhộn nhịp, đông người qua lại thế này. Càng đông người xem, chúng mình càng hăng say tấu lên những bài nhạc, đánh lên những nhịp chiêng thật vang, nhịp nhàng để mọi người biết đến, không chỉ là  âm nhạc mà còn là văn hoá dân tộc Gia Rai mình hay như thế nào”.
Là đội tham gia tuần thứ 2, Đoàn nghệ nhân Ba Na làng Kon Măh, xã Hà Tây, huyện Chư Păh, với 46 thành viên đã mang đến cho khán giả một bữa tiệc văn hóa thịnh soạn. Đó là những màn trình diễn cồng chiêng, nhạc cụ dân tộc, hát dân ca; đan lát, tạc tượng, dệt thổ cẩm cùng những trò chơi dân gian như đi cà kheo, kéo co, bắn nỏ và chế biến món ăn truyền thống của dân tộc Ba Na, giã gạo, vò lá mì…
Cách chế biến món ăn truyền thống của dân tộc Ba Na, giã gạo, vò lá mì… thu hút khán giả đến tham quan, trải nghiệm
Anh Khoa, thành viên đoàn chia sẻ: “Để chuẩn bị cho ngày trình diễn này, chúng tôi đã tập hợp bà con trong làng trước 10 ngày. Bà con ai cũng vui mừng, phấn khởi thu xếp công việc, gác lại nương rẫy để cùng nhau lên thành phố trình diễn. Ai có thế mạnh nào, thì tham gia thể hiện hết mình để đến cho khán giả những màn trình diễn đặc sắc, phong phú. Thật mừng vì khán giả cũng hoà cùng đội múa xoang, trải nghiệm những trò chơi dân gian chúng tôi mang đến chương trình”.
Trao truyền văn hoá dân tộc
Trải nghiệm Chương trình của Đoàn nghệ nhân Ba Na làng Kon Măh, em Hồ Minh Huy, phường Hội Thương, TP. Pleiku vui mừng nói: “Lần đầu tiên em được cảm nhận tiếng đàn ting ning, clack clock, t’rưng và cả tiếng trống, tiếng chiêng. Có rất nhiều thứ em muốn tìm hiểu, em sẽ đến đây hàng tuần để tiếp tục khám phá hết những văn hoá độc đáo của các dân tộc ở Gia Lai”.
Trong những buổi trình diễn, chủ thể văn hóa vùng đất này ngày càng ý thức rõ sức mạnh nội tại mình đang sở hữu để phát huy và trao truyền. Đội hình của đoàn còn có sự góp mặt của nghệ nhân đủ mọi lứa tuổi. Trong số đó, vẻ đáng yêu của các nghệ nhân “nhí” trở thành tâm điểm của buổi trình diễn, khiến khán giả vô cùng thích thú. Đây chính là những người sẽ kế thừa tình yêu văn hoá dân tộc, giúp nó còn mãi với thời gian.
Em Thọ (7 tuổi, thành viên Đoàn nghệ nhân Ba Na làng Kon Măh, xã Hà Tây) tâm sự: “Em được các cô chú trong đoàn tạo cơ hội đi trình diễn nhiều chương trình như Ngày hội văn hoá các dân tộc, Cồng chiêng cuối tuần… và những sự kiện quan trọng của làng, được biểu diễn trong các vai mình yêu thích, được học thêm nhiều bài chiêng hay. Em cảm thấy rất vui vì được gặp nhiều người và được giới thiệu về văn hóa dân tộc.

Các em nhỏ hào hứng tìm hiểu về nhạc cụ dân tộc Gia Rai
Ông Nguyễn Quang Tuệ, Trưởng phòng Quản lý văn hóa (Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch) cho biết: Thời gian qua, để cùng các nghệ nhân bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đặc sắc của các DTTS trên địa bàn, tỉnh Gia Lai đã tổ chức nhiều chương trình thực tế, đưa không gian văn hóa từ làng ra phố như: “Sắc màu văn hóa Gia Lai - Bảo tồn và phát triển”; Cồng chiêng cuối tuần - Thưởng thức và trải nghiệm; Ngày hội văn hóa các DTTS, Liên hoan cồng chiêng và sắp tới là Festival văn hóa cồng chiêng Gia Lai và Tuần lễ văn hóa - Du lịch 2023..., từ các chương trình với nội dung thiết kế phong phú, đặc sắc, ý thức trân trọng của cộng đồng đối với di sản văn hóa đã được nâng lên. Đây cũng chính là cơ hội phát triển mạnh mẽ dịch vụ, du lịch tỉnh Gia Lai.
Ông Trần Ngọc Nhung, Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai cho biết: Việc tổ chức các chương trình đã mang lại thành công trên 2 phương diện là bảo tồn, phát triển văn hóa của đồng bào DTTS trên địa bàn ; đồng thời thúc đẩy các hoạt động du lịch. Đặc biệt, thành công bước đầu từ việc tổ chức được 2 chương trình văn hóa đặc sắc diễn ra vào sáng Chủ nhật hàng tuần (từ tháng 10 - 12/2023), Sở sẽ tiếp tục tổ chức nhiều mô hình mới, đa dạng hoạt động hơn, có sự tham gia của đông đảo bà con các DTTS sinh sống trên địa bàn tỉnh. Dự kiến, mỗi tuần, chương trình sẽ mời một đoàn nghệ nhân tham gia trình diễn sắc màu văn hóa của dân tộc mình.
Theo đó, các nghệ nhân có thể tái hiện không gian sinh hoạt hàng ngày, như đan lát, dệt vải, tạc tượng, giã gạo, hát kể sử thi, biểu diễn dân ca, dân vũ, nhạc cụ dân tộc…; tái hiện không gian sinh hoạt lễ hội; tổ chức các trò chơi dân gian, chế biến ẩm thực và thưởng thức các món ăn truyền thống của đồng bào các DTTS.
"Việc tổ chức các nội dung hoạt động văn hóa thiết thực này, là một trong những nội dung nhằm thực hiện hiệu quả Dự án 6: Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thông tốt đẹp của các DTTS gắn với phát triển du lịch, thuộc Chương trình mục mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi năm 2023 của tỉnh", ông Trần Ngọc Nhung, Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai thông tin.

Dân tộc Mạ

 
Dân tộc Mạ

Dân tộc Mạ
Tên tự gọi: Mạ.
Tên gọi khác: Châu Mạ, Chô Mạ, Chê Mạ.
Nhóm địa phương: Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung.
Dân số: 41.405 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Lịch sử: Người Mạ là cư dân sinh tụ lâu đời ở Tây Nguyên.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Hoạt động sản xuất: Nương rẫy đóng vai trò chủ yếu trong đời sống của người Mạ. Ðây là loại rẫy đa canh, ngoài trồng lúa còn trồng các loại cây khác như bắp, bầu, bí, thuốc lá, bông vải, ở vùng sông Ðồng Nai, người Mạ làm ruộng bằng kỹ thuật lùa cả đàn trâu xuống ruộng quần đất đến khi nhão bùn thì gieo lúa giống. Họ tính năng suất của rẫy theo số gùi lúa thu được khi trỉa một gùi lúa giống. Công cụ làm rẫy chủ yếu là rìu, xà gạc, dao, liềm, gậy chọc lỗ, gùi. Nghề đánh cá khá phổ biến. Trước đây, họ biết chế thuốc độc từ loại lá rừng bỏ xuống suối để bắt cá. Người Mạ nổi tiếng về nghề trồng bông dệt vải.
Ăn: Cơm gạo tẻ với muối trộn ớt, sả, măng tươi và một số loại rau rừng. Cách chế biến thức ăn chủ yếu là nướng, luộc, nấu canh. Họ thích uống rượu cần và hút thuốc lá bằng điếu khan.
Mặc: Phụ nữ mặc váy quấn dài quá bắp chân, áo chui đầu vừa sát thân dài tới thắt lưng, kín tà. Nam đóng khố, áo hở tà, vạt sau dài hơn vạt trước. Mùa lạnh, người già thường khoác thêm tấm mền. Người Mạ có tập quán cà răng, căng tai, phụ nữ thích đeo chuỗi hạt cườm nhiều màu sắc. Thanh niên mang nhiều vòng đồng ở cổ tay có ngấn khắc chìm như là ký hiệu của các lễ hiến sinh tế thần linh, cầu mát cho chính mình.
: Người Mạ thường sống thành từng làng (bon) với một khu vực đất đai riêng biệt trên các cao nguyên Bảo Lộc, Di Linh, Ðạ Tẻ, lưu vực sông Ðồng Nai (Lâm Ðồng). Mỗi "bon" có từ 5 đến 10 nhà sàn dài. Nhà được làm bằng nứa, bương mai, hai mái lợp bằng lá mây. Mái cửa ra vào (cửa mẹ) uốn khum thành vòm bằng cành trúc đội trên mái cỏ. Xung quanh nhà ở, Họ còn dựng nhiều kho lúa trên sàn cao. Các cột nhà kho đều trang trí theo mô típ chày cối.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là chiếc gùi nan mang sau lưng với nhiều loại to nhỏ khác nhau. Chiếc gùi dùng đi xa được trang trí hoa văn qua các đường đan. ở vùng ven sông Ðồng Nai, người Mạ làm thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh cá trên sông.
Quan hệ xã hội: Làng là đơn vị tổ chức xã hội cao nhất của người Mạ do chủ làng đứng đầu (quăng bon). Chủ làng có nhiệm vụ cùng tế trong các nghi lễ mang tính chất cộng đồng. Người Mạ tồn tại hai hình thức gia đình: gia đình lớn phụ quyền và gia đình nhỏ phụ quyền. Người chủ gia đình lớn là người cao tuổi nhất của thế hệ cao nhất trong gia tộc, có nhiệm vụ điều hành mọi công việc trong gia đình và trông coi các đồ dùng quý hiếm như chiêng, ché.
Trong loại gia đình lớn phụ quyền, từng cặp vợ chồng với con cái ở chung nhưng làm ăn riêng, còn gia đình nhỏ phụ quyền thì như một đơn vị kinh tế cá thể nhưng vẫn lưu giữ dấu vết của gia đình lớn phụ hệ.
Ngôi nhà dài truyền thống của người Mạ còn lại rất ít trong các buôn làng.
Cưới xin: Quyền chủ động hôn nhân do bên nhà trai, nhưng sau lễ cưới nếu nhà trai nộp đủ sính lễ thì đôi vợ chồng chỉ ở lại nhà gái 8 ngày, còn không, chàng trai phải ở rể đến khi nộp đủ mới được đưa vợ về nhà mình.
Sinh đẻ: Khi sinh con trai, nhau của đứa trẻ đựng trong vỏ trái bầu khô chôn trước nhà, nếu sinh con gái nhau chôn sau nhà. Sang ngày thứ 8, người mẹ bồng con ra sân tắm nắng, nếu con trai phải mang theo xà gạt, nỏ, dao vót nan, con gái mang theo gùi, rìu chẻ củi, túi đựng cơm và giới bên kia như xà gạt, rìu, ché, váy áo chôn cùng huyệt hoặc bỏ rải rác xung quanh mộ. Sau lễ mai táng thì bỏ mả và tang chủ phải kiêng 7 ngày không được vào rừng hoặc lên rẫy.
Thờ cúng: Người Mạ tin có thần (Yang). Họ thờ cúng nhiều Yang như Yang Hiu (thần nhà), Yang Koi (thần lúa), Yang Bơnơm (thần núi). Họ thường giết súc vật tế thần vào những dịp được mùa, sinh đẻ, bệnh tật, chết chóc. Lễ hiến sinh lớn nhất là lễ đâm trâu, thường được thực hiện lúc kết thúc mùa rẫy.
Lịch: Người Mạ theo âm lịch.
Học: Người Mạ không có chữ viết, nền văn hoá dân gian Mạ vẫn sống bằng lối sống nghìn xưa - thuộc lòng và truyền miệng.
Văn nghệ: Vốn văn học nghệ thuật dân gian khá phong phú gồm nhiều truyền thuyết, truyện cổ và những bài dân ca trữ tình gọi là "tam bớt".
Nhạc cụ truyền thống là bộ chiêng đồng 6 chiếc không núm. Khi hoà tấu có trống bịt da trâu đánh giáo đầu, giữ nhịp và đổ hồi trước khi kết thúc. Con trai Mạ thường thổi khèn bầu, sáo trúc, tù và bằng sừng trâu.

Ẩm thực truyền thống của người Gia Rai

 
Ẩm thực truyền thống của người Gia Rai
Vùng đất Ea Sup nằm trong nhóm các kiểu địa hình thung lũng giữa núi và trước núi, lượng mưa năm là 1200 - 1600 mm, từ tháng 9 cho đến tháng 4 năm sau, đây là vùng tương đối ít mưa, lượng mưa chỉ dưới 200 mm, mùa khô kéo dài, khả năng giữ nước của đất kém, vì vậy ở đây tập trung chủ yếu loại rừng thưa cây lá rộng (rừng khộp) là điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại của các loài thú lớn có giá trị như: Voi, trâu rừng, bò rừng,...
Là một huyện của tỉnh Đắk Lắk, nằm gần trọn trên vùng địa hình Ea Sup, cách thành phố Buôn Ma Thuột 85 km theo đường Tỉnh lộ 1 về hướng Tây Bắc. Dân số của huyện Ea Sup trên 64.000 người, bao gồm 28 dân tộc anh em. Riêng người Gia Rai ở huyện Ea Sup có số hộ là 796, số khẩu là 35813 tập trung chủ yếu ở thị trấn Ea Sup. Người Gia Rai ở huyện Ea Sup thuộc nhóm Chor gốc ở vùng Plei Kly4 (tỉnh Gia Lai) di cư đến đã được 3 - 4 đời, dòng họ Siu là người khai phá vùng đất này đầu tiên, lấy tên suối Ea Sup đặt tên Plei Sup.  

Rượu cần Gia Rai.
Người Gia Rai trước đây làm rẫy là chính còn hiện nay canh tác ruộng nước, chăn nuôi gia đình có: voi, trâu, bò, lợn, gà, chó... Trong đó trâu là vật ngang giá trong việc trao đổi vật quý như chiêng, ché, và hiến sinh trong lễ nghi tín ngưỡng.
Gạo tẻ là lương thực chính, lương thực phụ là ngô. Thức ăn có rau các loại như: cà đắng, lá sắn (mỳ), lá và hoa mướp, rau lang, rau rừng đắng, măng, muối ớt; động vật có có thịt gà, cá. Một thứ gần như là gia vị không thể thiếu của người Gia Rai cả trong nấu ăn ngày thường lẫn ngày lễ đó là peng (thính). Thính được làm từ gạo tẻ, rang vàng, giã nhỏ, để trong ống tre dùng dần. Ngày xưa khi muối còn khan hiếm, người ta đã tự làm ra một loại muối để ăn từ đậu xanh bằng cách đốt vỏ đậu xanh, sau đó lọc lấy nước và dùng thay muối. Gia vị thay bột ngọt là một loại lá rừng có vị ngọt (la jao).
Bữa cơm hằng ngày có cơm tẻ, canh rau nấu bình thường, có thể buổi sáng nấu canh cà đắng, buổi chiều lá sắn hoặc ngọn mướp, hoa mướp; một tuần khoảng hai lần có nấu nhăm peng (canh thính), nhăm pung (canh bột).

Món Nhăm pung (canh bột).
Canh thính nấu rất đơn giản, đổ nước đun sôi, bỏ cá đã được làm sạch sẽ vào, nếu là loại cá to phải cắt khúc vừa ăn. Đun sôi lại một lúc, đến khi cá chín bỏ rau lang hoặc rau rừng đắng, hoặc cà đắng. Canh bột nấu cầu kỳ hơn một chút, xương heo được đun kỹ, sau đó bỏ cà đắng, măng, lá é và thính (lá é và thính bắt buộc phải có thì mới đúng là canh bột)
Trong các dịp gia đình, dòng họ, buôn làng có lễ hội nhất là trong những dịp lễ cưới, lễ bỏ mả, các món ăn truyền thống bắt buộc như nhăm pung (canh bột), món lap và món tai lŏp.
Nhăm pung (canh bột) trong dịp lễ được nấu cầu kỳ hơn, có lẽ vào những dịp như thế này mọi sản vật từ rừng, từ nhà đều được đưa vào nồi canh bột. Nồi canh bột trong dịp lễ có môn, mít, đu đủ, bí xanh, đọt mây, hoa chuối (trước đây người ta dùng cả đọt chuối) cùng với xương con vật dùng để hiến tế cho thần linh như bò, heo để nấu chung. Gạo được ngâm khoảng 30 phút, để ráo nước giã thành bột, la jao được giã chung. Cùng với các gia vị khác như muối, ớt, hành, tỏi, lá é và bột gạo được bỏ vào sau cùng. Nhăm pung (canh bột) được nấu trong những nồi đồng lớn bởi vì già, trẻ, trai, gái tất cả đều ăn được, người phụ nữ Gia Rai hầu như để hết tâm huyết vào món ăn này trong các dịp lễ trọng của gia đình, dòng họ và buôn làng.
Món lap thịt được luộc sơ qua, băm nhỏ, lòng được làm sạch, luộc riêng, thái nhỏ. Sau đó, hai thứ này được trộn lẫn với nhau, cùng với thính, tiết sống, ớt, muối, sả, hành lá, la gil (ngò gai gọi theo người miền Trung hoặc mùi tàu gọi theo người miền Bắc - lá này là bắt buộc không thể thiếu trong món lap) sau cùng là chanh vắt lấy nước trộn đều. Món lap phù hợp cho những người uống rượu.

Món lap.
Tai lŏp là món không thể thiếu nếu trong lễ có hiến sinh bò hoặc trâu, đây là món bắt buộc để đãi họ hàng, nếu gia chủ không làm món này thì sẽ bị dân làng coi thường vì không tôn trọng người đến dự lễ. Tai lŏp được làm từ gan của bò hoặc trâu. Gan được luộc chín, thái miếng bằng ngón tay, ướp gia vị gồm thính, lá chanh, ớt, sả, ngò gai, bột ngọt. Lá xách bò được làm sạch, luộc sơ, quấn với gan đã được ướp. Tpei (rượu cần) là một thứ được làm bằng gạo tẻ, gạo được nấu thành cơm rồi trộn với trấu, dàn mỏng rồi phơi. Men rượu được làm từ bột cây rừng. Men được giã nhỏ, rắc trên nia cơm sau đó trộn thêm một lần trấu nữa rồi đổ vào trong ché, lấy lá chuối khô ủ kín. Sau một tháng mang ra dùng, khi uống lót lá chuối tươi ở trên, đổ nước lã đầy ché. Cần được làm bằng thân cây trúc đục rỗng các mắt của cây, cắm xuyên qua các tầng lá xuống đáy ché, uống cạn đến đâu lại chế thêm nước lã đến đó.
Nhăm pung, lap, tai lŏp được đựng trong bát, đĩa nếu lễ diễn ra trong nhà hoặc lá chuối hay lá rừng loại to bản khi tổ chức ngoài nghĩa địa, chia thành từng phần cho mỗi người. Rượu cần, ngoài việc dâng cúng cho thần linh, rượu cần còn là thức uống không thể thiếu, được coi như trung tâm của cuộc lễ. Nhờ có men say từ rượu mà người tham dự có thể vừa ăn, vừa uống, vừa thưởng thức những lời hát, điệu múa, đánh chiêng và sau đó họ cũng sẽ bị cuốn hút vào vòng xoang truyền thống của cộng đồng...

Cá đắng phơi khô.
Điều kiện tự nhiên nơi đây không mấy thuận lợi, đất đai khô cằn, hạn hán, lũ lụt thường xuyên xảy ra kéo theo nhiều dịch bệnh, người dân sinh sống lại chỉ phụ thuộc vào thời tiết, lúa chỉ làm được có một vụ nên đói nghèo liên miên. Sau năm 1975, có nhiều dân tộc từ nơi khác nhập cư vào Ea Sup sinh sống, như người Kinh và các dân tộc phía Bắc (Thái, Nùng, Tày, Dao, Mông, ...) theo chương trình di dân và di cư tự do. Tính chất đa dân tộc này có ảnh hưởng trực tiếp đến phong tục tập quán cũng như thói quen của từng nhóm cộng đồng. Phong tục tập quán của người Gia Rai cũng có nhiều thay đổi, nhất là ẩm thực. Các nguyên vật liệu tạo thành món ăn truyền thống như loại nguyên liệu tạo mặn, tạo ngọt đã được thay bằng chất liệu hiện đại muối, bột ngọt mua từ chợ. Cơ cấu món ăn cũng được bổ sung thêm vào các dịp lễ như: lễ cưới, cúng sức khoẻ... có thêm món nộm, món xào của người Kinh.
Thông qua những sản vật mà người Gia Rai ở huyện Ea Sup, tỉnh Đắk Lắk săn bắn và hái lượm tạo nên những nét văn hóa ẩm thực truyền thống tộc người có thể là một trong những điểm nhấn nhằm thu hút được khách du lịch. Nhất là, di sản văn hóa đặc sắc ở huyện Ea Sup là tháp Chăm Yang Prong - ngôi tháp hầu như còn nguyên vẹn nhất trên đất Tây Nguyên đã, đang và sẽ hấp dẫn nhiều du khách khi đến với nơi đây và người Gia Rai sẽ có cơ hội giới thiệu ẩm thực truyền thống của cộng đồng cho du khách trong và ngoài nước... Đây là nguồn thu nhập tiềm năng chưa được khai thác triệt để, rất cần được các cấp chính quyền quan tâm để quảng bá di sản văn hóa này, đồng thời giúp người dân cân đối lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, góp một phần nhỏ để bà con Gia Rai thoát nghèo vùng đất Ea Sup sẽ thực sự hấp dẫn nhiều du khách hơn nữa.
Tại vùng giáp ranh giữa hai tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai như huyện Ea Sup, huyện Ea H’Leo, từ đầu thế kỷ XX trở lại đây, người ta đã thống kê được rằng, dân tộc Gia Rai bao gồm nhiều nhóm như: Arap, Hdrung, Tbuăn, Mdhur, Chor,…các nhóm địa phương này có chung một nền văn hoá, song mỗi nhóm đều có những nét riêng, độc đáo. Ẩm thực truyền thống của dân tộc Gia Rai, cư trú ở huyện Ea Sup, tỉnh Đắk Lắk là một ví dụ.


Nét đặc sắc của trang phục truyền thống các dân tộc Tây Nguyên

 Nét đặc sắc của trang phục truyền thống các dân tộc Tây Nguyên

Tây Nguyên, vùng đất giàu truyền thống và văn hóa của Việt Nam, không chỉ nổi tiếng với cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ mà còn là nơi lưu giữ và phát triển các nền văn hóa đa dạng. Trong đó, trang phục truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên đặc biệt thu hút và độc đáo, phản ánh sâu sắc tâm hồn và cuộc sống của những cư dân nơi đây. Cùng YODY khám phá những nét đặc sắc của trang phục dân tộc Tây Nguyên qua bài viết này nhé!

1. Tổng quan trang phục truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên

Tây Nguyên là vùng đất của những dân tộc thiểu số đặc biệt và có lịch sử phong phú. Các dân tộc ở Tây Nguyên bao gồm: Ê Đê, M’nông, Ba Na, Giarai, Xơ Đăng, Cơ Tu, Brâu, Rơ Măm, Mạ, Chứt, Xinh Mun… Mỗi dân tộc lại có những trang phục dân tộc với những nét đặc trưng riêng.

trang phục dân tộc tây nguyênTrang phục dân tộc Tây Nguyên

Trang phục dân tộc Tây Nguyên không chỉ đơn thuần là quần áo, mà còn có giá trị văn hóa, là biểu tượng cho văn hóa, truyền thống, tâm linh và tôn giáo của từng dân tộc.

Trang phục truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên mang đậm bản sắc văn hóa của từng tộc người, thể hiện đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo và quan niệm thẩm mỹ của mỗi dân tộc.

Dưới đây là những nét đặc sắc trong trang phục dân tộc Tây Nguyên:

1.1 Sử dụng chất liệu tự nhiên

Trang phục truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên thường được làm từ các loại chất liệu tự nhiên như len, lanh, cotton, hoặc những loại vải được dệt từ sợi cây như tre, mía. Sự sử dụng chất liệu tự nhiên không chỉ mang lại cảm giác thoải mái mà còn kết hợp hài hòa với thiên nhiên, thể hiện sự gần gũi và giao hòa giữa con người và môi trường sống.

trang phục dân tộc tây nguyên

Sử dụng chất liệu tự nhiên

1.2 Màu sắc

Màu sắc trong trang phục truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên thường rất đậm đà và mang tính biểu tượng. Mỗi màu sắc đều mang ý nghĩa riêng, thể hiện tư duy về thế giới, về đời sống và về môi trường của từng dân tộc. Ví dụ, màu đen thường được người Ê Đê sử dụng để tôn vinh sức mạnh và kiên cường, trong khi màu đỏ thường là biểu tượng của sự may mắn và phú quý.

1.3 Hoa văn trang trí

Hoa văn trang trí trên trang phục truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên thường mang tính chất trừu tượng và phong phú. Các họa tiết thường được thêu hoặc in trên bề mặt vải bằng các sợi màu đậm, tạo nên điểm nhấn nghệ thuật và tinh tế cho bộ trang phục. Mỗi hoa văn thường kể một câu chuyện, một truyền thống, hoặc một giá trị tinh thần của dân tộc.

trang phục dân tộc tây nguyênHoa văn trang trí

2. Trang phục truyền thống của từng dân tộc Tây Nguyên

2.1 Trang phục của người Ê Đê

Trang phục truyền thống của người Ê Đê là một phần không thể thiếu trong việc thể hiện bản sắc văn hóa và tinh thần kiêng kỵ của dân tộc này. Được làm từ chất liệu bông tự nhiên, trang phục của người Ê Đê thường rất màu sắc và nổi bật, tạo nên sự quyến rũ và phóng khoáng.

trang phục dân tộc tây nguyênTrang phục người Ê-đê

Đối với nam giới, trang phục truyền thống thường bao gồm một chiếc áo ngắn và quần dài, kết hợp với việc quấn một chiếc khăn khổng lồ, gọi là "khố", quanh thắt hông. Đầu được đội một chiếc khăn màu sắc đậm, thể hiện sự mạnh mẽ và kiêng kỵ của người Ê Đê.

Trong khi đó, phụ nữ Ê Đê thường mặc áo dài truyền thống đi kèm với một chiếc váy xòe rộng rãi và thoải mái. Cũng giống như nam giới, họ cũng đội một chiếc khăn đậm màu trên đầu để hoàn thiện bức tranh trang phục truyền thống của mình.

Nét đặc trưng quan trọng trong trang phục của người Ê Đê là việc trang trí bằng những hoa văn mang ý nghĩa biểu tượng. Các hoa văn thường được thêu hoặc in trên vải bằng các sợi màu đậm, tạo nên điểm nhấn nghệ thuật và tinh tế cho bộ trang phục. Những hoa văn mặt trời, hoa văn chim muông, hay những hình ảnh thiên nhiên đều thường xuất hiện trên trang phục, thể hiện sự kính trọng và sự kết nối với tự nhiên của người Ê Đê.

2.2 Trang phục của người Ba Na

Trang phục truyền thống của người Ba Na là biểu tượng của sự trang nhã và lịch lãm, thể hiện sự kỳ công và tinh tế trong từng chi tiết. Màu sắc chủ đạo trong trang phục của họ thường là màu đen và trắng, tạo nên sự trầm mặc và sang trọng.

trang phục dân tộc tây nguyên

Trang phục của người Ba Na

Đối với nam giới, trang phục truyền thống thường bao gồm một chiếc áo ngắn và quần dài, kết hợp với việc quấn một chiếc khăn khổng lồ, gọi là "khố", quanh thắt hông. Đầu được đội một chiếc khăn màu sắc đậm, thể hiện sự phong trần và trí tuệ của người Ba Na.

Phụ nữ Ba Na thường mặc áo dài truyền thống đi kèm với một chiếc váy xòe rộng rãi và thoải mái. Chất liệu vải thường là những loại vải mềm mại và có độ co giãn tốt, giúp phụ nữ Ba Na dễ dàng vận động trong mọi hoàn cảnh. Để hoàn thiện bức tranh trang phục truyền thống của mình, họ cũng đội một chiếc khăn đậm màu trên đầu, tạo nên vẻ đẹp trang nhã và quyến rũ.

Nét đặc trưng trong trang phục của người Ba Na là việc trang trí bằng những hoa văn đơn giản mang ý nghĩa biểu tượng. Các hoa văn thường được thêu hoặc in trên vải bằng các sợi màu đậm, tạo nên điểm nhấn nghệ thuật và tinh tế cho bộ trang phục. Những hoa văn hình chữ thập, hoa văn hình tam giác, hay những hình ảnh thiên nhiên đều thường xuất hiện trên trang phục, thể hiện sự kính trọng và sự kết nối với tự nhiên của người Ba Na.

2.3 Trang phục của người Gia Rai

Trang phục truyền thống của người Gia Rai không chỉ là bộ quần áo thông thường mà còn là biểu tượng của sự sáng tạo và tinh thần tự do. Với màu sắc sặc sỡ và nổi bật, trang phục của họ thường thu hút ánh nhìn ngay từ cái nhìn đầu tiên.

trang phục dân tộc tây nguyên

Nơi lan tỏa bản sắc văn hóa truyền thống K’Ho

 

Nơi lan tỏa bản sắc văn hóa truyền thống K’Ho

Bên cánh đồng Gung Ré mênh mông, Làng truyền thống dân tộc K’Ho nổi bật bởi khu nhà sàn được bao quanh bởi hàng rào gỗ, cổng ra vào bằng gỗ gợi vẻ đẹp mộc mạc, bình dị như kiến trúc buôn làng của người K’Ho xưa.

Tái hiện Lễ hội ăn trâu Mừng lúa mới (Nhô Lib Bông của người KHo)
Tái hiện Lễ hội ăn trâu Mừng lúa mới (Nhô Lib Bông của người K'Ho)

Trong tiếng K'Ho, Srê nghĩa là ruộng. Người K'Ho Srê sinh sống từ lâu đời trên cao nguyên Di Linh, định canh định cư làm ruộng nước, chung sức khai khẩn làm nên cánh đồng Gung Ré, Bảo Thuận - được coi là vựa lúa của vùng đất này. Cùng sự phát triển, nhiều nét đẹp trong phong tục tập quán cũng nhạt nhòa theo thời gian, việc phục dựng làng truyền thống đã làm hồi sinh những giá trị bản sắc văn hóa của người K’Ho Srê. Năm 2022, công trình Làng truyền thống dân tộc K’Ho huyện Di Linh được dựng lên tại thôn Klong Trao, xã Gung Ré (trên Quốc lộ 28 đi Bình Thuận) trở thành nơi bảo tồn, lưu giữ những văn hóa vật thể và phi vật thể của đồng bào K’Ho Srê. Đây cũng là nơi tổ chức các hoạt động cộng đồng, các lễ hội truyền thống để lớp lớp thế hệ sau nhớ về cội nguồn, kế tục và tiếp nối những di sản văn hóa cha ông để lại. 

Ka Hưng - người con của buôn làng giới thiệu vật dụng sinh hoạt 
của người KHo
Ka Hưng - người con của buôn làng giới thiệu vật dụng sinh hoạt của người K'Ho

Bước qua chiếc cổng gỗ có dòng chữ “Làng truyền thống dân tộc Cơ Ho” mở ra một không gian quần tụ với 5 ngôi nhà sàn quây quanh khoảng sân rộng, lối đi giữa những ô cỏ xanh mướt khang trang. Ngôi nhà sàn gỗ to lớn nhất nằm ở trung tâm kiên cố bởi những thân gỗ tròn nguyên khối vững chãi, vách gỗ được đánh bóng màu cánh gián, mái ngói hồng tươi. Hai bên là 4 căn nhà sàn tranh tre nứa lá với cột kèo bằng gỗ, vách nứa, sàn lồ ô, mái cọ… mô phỏng kiến trúc nhà dài truyền thống của đồng bào K’Ho. Tất cả được bao quanh bằng hàng rào gỗ, hướng ra cánh đồng lúa mênh mông 4 mùa thay sắc, tạo nên khung cảnh một buôn làng thu nhỏ. Phong cảnh khoáng đạt hòa quện cùng những giá trị văn hóa, gợi nhớ không gian cộng đồng của người K’Ho xưa.

Trình diễn nghề đan lát truyền thống của người KHo
Trình diễn nghề đan lát truyền thống của người K'Ho

Tổng nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình hơn 12 tỷ đồng; trong đó, ngân sách Trung ương cấp hơn 7 tỷ đồng, vốn đối ứng từ ngân sách huyện 5 tỷ đồng. Sau gần 2 năm thi công, công trình hoàn thành đã thành nơi hội tụ trưng bày hiện vật văn hóa, tổ chức các hoạt động văn hóa, tái hiện các lễ hội truyền thống, nơi vui chơi giải trí, nơi trải nghiệm thú vị dành cho du khách, phục vụ phát triển du lịch cộng đồng.

Già làng KKeo thổi tù và báo hiệu mở hội
Già làng K'Keo thổi tù và báo hiệu mở hội

Bước lên cầu thang gỗ, đi vào ngôi nhà sàn lớn, nhiều hiện vật, kỷ vật được đặt để, được treo trang trọng, sắp đặt kín 4 vách tường như một bảo tàng thu nhỏ của người K’Ho. Đó là dụng cụ lao động, sản xuất, sinh hoạt đời sống bằng đủ loại chất liệu, gồm các loại nông cụ, vật dụng hàng ngày như: xà gạc, liềm, cung ná, gùi, cối giã gạo, rổ, rá, dần, sàng, bầu đựng nước, dụng cụ đánh bắt cá, nơm, đó, dụng cụ săn bắt, hái lượm...; các hiện vật trong hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ truyền thống, các nhạc cụ dân tộc như: dàn chiêng 6, tù và, khèn bầu, cây nêu, chóe, chum; trang phục truyền thống, váy áo, khăn… Trong đó có nhiều sản phẩm nghề truyền thống của người K’Ho là những vật dụng đan lát từ mây tre đan thể hiện sự khéo léo, cần mẫn, tỉ mỉ trong lao động sáng tạo, chinh phục thiên nhiên của đồng bào. 

Chuẩn bị các vật dụng, trang hoàng không gian mở hội
Chuẩn bị các vật dụng, trang hoàng không gian mở hội

Đặc biệt, 30 hình ảnh do người Pháp chụp đã mô tả đời sống, sinh hoạt, ăn mặc, nhà cửa, kiến trúc, phong tục tập quán của người K’Ho ở cao nguyên Di Linh từ cách đây hơn 100 năm. Những bức hình đen trắng đã mờ đi với thời gian, người trong ảnh đều đã thành người thiên cổ nhưng ẩn chứa sức gợi lớn. Ông Vũ Đức Nhuần - Phó Chủ tịch UBND huyện Di Linh cho biết, ngay sau khi hoàn thành, vào tháng 6/2024, Làng truyền thống dân tộc K'Ho đã diễn ra Ngày hội Văn hóa - Thể thao vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh lần thứ 3. Công trình đã làm nức lòng người khi đồng bào K’Ho trong toàn huyện từ Đinh Trang Thượng, Tân Nghĩa, Liên Đầm, Đinh Lạc, Đinh Trang Hòa… tụ hội về đây. Sau đó, nhiều sự kiện văn hóa, lễ hội đã được tổ chức tạo điểm đến ấn tượng.

Thưởng lãm ẩm thực truyền thống: thịt trâu nướng, rau rừng, 
da trâu cà đắng, đọt mây...
Thưởng lãm ẩm thực truyền thống: thịt trâu nướng, rau rừng, da trâu cà đắng, đọt mây...

Chúng tôi đến đây vào đúng ngày buôn làng tái hiện Lễ hội đâm trâu Mừng lúa mới (Nhô Lib Bông), khi những cơn mưa cuối mùa sót lại, lúa đã về kho, cánh đồng mênh mông còn trơ gốc rạ. Những vạt hoa ven đồi nở hồng báo hiệu mùa nắng ấm, xuân sang. Trong se lạnh của miền đồng rừng, sự hiếu khách, nồng ấm tình người của đồng bào hòa cùng không gian linh thiêng phấp phới cây nêu lớn, nhỏ được đẽo gọt, tỉa tót, chạm khắc công phu, gửi gắm nhiều ý niệm với đất trời. Góc sân, một chú trâu mộng được đeo “trang sức” có họa tiết, họa văn độc đáo, bị cột chặt nơi gốc cây nêu làm vật hiến sinh. Đã tránh đi sự “dã man” giết chóc, một chàng trai cường tráng cầm lao chỉ mô phỏng động tác của người xưa để thực hiện nghi lễ. Dù vậy, chỉ tiếng sau, đầu của chú trâu cũng sẽ được đặt để ở gốc cây nêu dâng lên Yàng và các vị thần. 

Lời gọi Yàng, lời khẩn cầu tha thiết của già làng K’Keo hòa vào tiếng tù và (buôn Hàng Làng - xã Gung Ré) tu tu vang vọng. Đã qua biết bao nhiêu mùa gặt, bài khấn ấy như ngấm vào máu của ông qua lời của lớp lớp thế hệ đi trước truyền lại. Lời tri ân, cầu nguyện đất trời ấy đã cho thấy con người dù ở bất cứ đâu, vùng đất, quốc gia, dân tộc nào thì dường như những mong cầu đều giản dị như nhau: Cầu cho mưa thuận gió hòa, nhà nhà no ấm, người người khỏe mạnh, cộng đồng hòa thuận, buôn làng bình yên!

Già làng dứt lời là tiếng cồng chiêng âm vang, là vũ điệu xoang nhịp nhàng không dứt, là hương thịt trâu nướng thơm ngọt và rượu cần chuếnh choáng men say, ngây ngất lòng người. Tự hào về truyền thống của đồng bào mình, Ka Hưng đã giới thiệu từng nét đẹp truyền thống, phong tục tập quán qua từng vật dụng trưng bày trong ngôi nhà sàn truyền thống. Rồi dẫn các vị khách phương xa qua căn bếp ấm áp của người K’Ho trong ngôi nhà dài với các loại hạt giống được treo lên vách để gieo cấy mùa sau, các loại thức ăn được gác bếp hun khói dự trữ cho những ngày trời mưa gió…

Cũng trong không gian đáng tự hào ấy, già K’Keo kể, từ xa xưa, nhiều gia đình K’Ho đã có đàn trâu trăm con thả trên cánh đồng, để mỗi một mùa xuân về, cánh đồng còn trơ gốc rạ, người K’Ho Srê lại cùng nhau ăn trâu mừng lúa mới. Người K’Ho quan niệm, ăn gà là ăn trong gia đình, ăn lợn là ăn trong dòng họ, còn ăn trâu là ăn cả cộng đồng. Mùa này ăn trâu của nhà này, mùa khác ăn trâu của nhà kia. Nhà nào nuôi nhiều trâu sẽ chọn một con to khỏe làm lễ cúng tạ ơn Yàng, mừng vụ mùa bội thu để cả làng cùng ăn, cùng vui chơi, chia sẻ thành quả lao động.

Mùa xuân, tìm về với Làng truyền thống dân tộc K’Ho, du khách như được đắm mình trong vùng đất thấm đẫm nhân văn, cùng đi giữa mùa hoa cà phê nở trắng núi đồi, ngắm hồ Ka La, leo núi Brăh Yàng, ngắm thác Bobla… Đêm về bập bùng ánh lửa bên ché rượu cần, cùng già làng, các chàng trai, cô gái ăn rau rừng, cá suối, thịt nướng, ngân nga câu ca yalyao, điệu tầm pớt, hòa mình vào vũ điệu xoang đến quên đường về.

Lễ hội Tây Nguyên

lễ hội Cồng Chiêng Tây Nguyên

 

1. Lễ hội Cồng Chiêng 

  • Thời gian: Hiện nay, vẫn chưa có thời gian diễn ra lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên cụ thể mà mỗi năm tổ chức vào một thời điểm khác nhau.
  • Địa điểm: 5 tỉnh Tây Nguyên sẽ luân phiên tổ chức đó là Đăk Lăk, Lâm Đồng, Kontum, Đăk Nông và Gia Lai.

Đến với Tây Nguyên lễ hội nổi tiếng và đặc sắc nhất được rất nhiều du khách quan tâm đó là lễ hội Cồng Chiêng. Các du khách nếu đến với Tây Nguyên mà bỏ qua lễ hội này thì quả là điều đáng tiếc nhất. 

Lễ hội Cồng Chiêng Tây Nguyên năm 2005 được tổ chức UNESCO chính thức công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đây là lễ hội thể hiện đậm chất nhất nét đẹp và văn hóa của người dân Tây Nguyên rất chân chất, mộc mạc, thật thà,... 

2. Lễ hội đua voi

  • Thời gian: Lễ hội được diễn ra vào khoảng tháng 3 âm lịch và thường kéo dài khoảng 3 ngày, thời điểm mà người dân nơi đây khởi đầu trước khi vào rừng phát rẫy làm nương
  • Địa điểm: Tổ chức tại Bản Đôn, xã Krông na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk.

lễ hội đua voi tại Tây Nguyên

Lễ hội đua voi Tây Nguyên nổi tiếng luôn được các du khách lựa chọn khi đến với mảnh đất núi rừng ở đây. Hình ảnh chú voi được coi là “linh vật”  của vùng miền Tây Nguyên. Chắc chắn, mọi người đã rất quen thuộc với hình ảnh “Chú voi con ở Bản Đôn” gắn liền với ký ức tuổi thơ.  Khi tham gia lễ hội đua voi Bản Đôn, du khách sẽ được tận mắt chứng kiến những chú voi to, khỏe mạnh cùng nhau đọ sức trong cuộc thi để giành được chiến thắng. 

3. Lễ ăn cơm mới

  • Thời gian: Lễ hội thường được diễn ra vào khoảng tháng 11 đến tháng 1 (vào khoảng cuối năm nếu tính theo âm lịch)
  • Địa điểm: Lễ hội được diễn ra ở khắp các bản làng của Tây Nguyên

lễ hội ăn cơm mới Tây Nguyên

Lễ hội ăn cơm mới đặc sắc ở Tây Nguyên. Đây là nghi lễ nổi tiếng của người dân Ê Đê để tổng kết lại những thành quả và vất vả nhất của người đồng bào sau mùa màng bội thu. Người dân Ê Đê cũng cầu cho một năm mới thuận lợi đến với những vụ mùa tiếp theo.

Không chỉ có vậy, du khách còn có cơ hội thưởng thức rất nhiều món ăn như: gà nướng, cơm lam và thưởng thức rượu cần,... Chắc chắn hương vị ẩm thực của Tây Nguyên sẽ mang dấu ấn cho các du khách khi đến với mảnh đất núi rừng nơi đây. 

Xem thêm:  vé máy bay khứ hồi Đà Nẵng

Xem thêm

4. Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột

  • Thời gian: Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột thường được tổ chức vào tuần đầu tiên trong tháng 3, Lễ hội được tổ chức vào thời gian này một phần để du khách và người dân địa phương nhớ đến ngày Giải phóng Buôn Ma Thuột 10-03-1975.

  • Địa điểm: Lễ hội gồm một chuỗi các sự kiện được tổ chức tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk

lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột

Một trong những đặc sản nổi tiếng của Tây Nguyên đó là cà phê. Tại đây diễn ra lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột được đánh giá là lễ hội đặc sắc nhất mang tầm vóc một lễ hội cấp Quốc gia. Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột không chỉ nhằm mục đích thể hiện được sự ấm no, mùa bội thu mà còn mang tính chất để quảng bá hình ảnh Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk là vùng đất huyền thoại, giàu bản sắc dân tộc. 

Tại Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột du khách còn được tham gia rất nhiều hoạt động đặc sắc khác như: hội chợ triển lãm, hội thi pha chế cà phê, hành trình du lịch cà phê,…

5. Lễ tạ ơn cha mẹ

  • Thời gian: Sau ngày lễ mừng cơm mới
  • Địa điểm: Tại cộng đồng người Bahnar và Jrai ở Kon Tum.

lễ hội tạ ơn cha mẹ tại Tây Nguyên

Người dân đồng bào tại Tây Nguyên có lễ hội mang tên Lễ tại ơn cha mẹ. Đây là một lễ hội thể hiện sự hiếu thảo của những người con sau khi đã có gia đình. Đối với những người con gái sau khi đã kết hôn thì họ quay về nhà cha mẹ để làm “Lễ tạ ơn cha mẹ” nhằm tạ ơn công sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ. Tiếp đó, họ quây quần bên nhau, ăn uống cùng nhau trong khoảng 2 ngày. Lễ hội được diễn ra ở cả nhà ba mẹ bên chồng lẫn bố mẹ bên vợ. Lễ tạ ơn cha mẹ gồm 2 phần: phần lễ và phần hội. Trong đó phần lễ là quan trọng thể hiện sự báo hiệu, tỏ lòng thành kính biết ơn đối với đấng sinh thành.

6. Lễ cúng bến nước

  • Thời gian: Lễ cúng thường được tổ chức vào tháng 3 dương lịch hàng năm, sau mùa thu hoạch.
  • Địa điểm: Các buôn làng của người đồng bào Ê đê

lẽ hội cũng bến nước Tây Nguyên

Lễ cúng bến nước nổi tiếng ở Tây Nguyên. Đây là lễ hội của người đồng bào Ê Đê. Sau khi thu hoạch vụ mùa, trưởng làng tìm đến người chủ bến nước để bàn bạc với nhau về việc tổ chức lễ cúng bến nước. Lễ hội cúng bến nước cầu cho một năm mưa thuận gió hòa mong cho một năm mùa màng bội thu.